2018 - NĂM ĐỘT PHÁ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

Bộ trưởng Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho biết, năm 2018 được Bộ chọn là năm đột phá trong giáo dục nghề nghiệp. Mục tiêu là tạo bước chuyển biến rõ nét, thực chất về chất lượng, hiệu quả giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của người học, thị trường lao động và doanh nghiệp, đặc biệt là những ngành đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao của cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung trả lời Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 18/4/2017

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là đòi hỏi của mỗi quốc gia, của mỗi nền kinh tế. Đây cũng chính là mong mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng. Giải pháp chiến lược tổng thể đã được chỉ rõ trong Đề án “Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp(GDNN)  đến năm 2020 và định hướng đến 2030” trình Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, Đề án đã xác định 8 nhóm giải pháp, trong đó 3 nhóm giải pháp đột phá là: (1) Trao quyền tự chủ đầy đủ cho các cơ sở GDNN gắn với trách nhiệm giải trình, cơ chế đánh giá độc lập, sự kiểm soát của nhà nước, giám sát của xã hội; (2) Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng; (3) Gắn kết GDNN với thị trường lao động, việc làm bền vững và an sinh xã hội.

Ngay khi được giao nhiệm vụ thực hiện quản lý nhà nước về GDNN, bản thân tôi và Lãnh đạo Bộ đã đặt ra  nhiệm vụ phải nỗ lực tạo được sự chuyển biến tích cực, thực sự về chất lượng GDNN. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần xác định rõ, vấn đề này không thể giải quyết một sớm, một chiều, mà nó cần có thời gian, cần có sự quan tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của doanh nghiệp, của các thành phần kinh tế và của toàn xã hội.

Trong năm 2017, năm đầu tiên thực hiện quản lý nhà nước về GDNN, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tập trung chỉ đạo xây dựng hệ thống văn bản quản quy phạm pháp luật về GDNN. Đến nay về cơ bản được ban hành tương đối đầy đủ, bao phủ hầu hết các hoạt động trong lĩnh vực GDNN, bảo đảm hệ thống GDNN vận hành tốt theo đúng quy định của pháp luật, đến nay đã trình ban hành và trực tiếp ban hành 42 văn bản hướng dẫn thi hành Luật GDNN, cắt giảm 31 thủ tục hành chính, bảo đảm việc đầu tư, hoạt động trong lĩnh vực GDNN thuận lợi, tiết kiệm tối đa chi phí và thời gian thực hiện.

Chương trình đào tạo được xây dựng theo định hướng năng lực thực hiện; việc tổ chức đào tạo cũng được nhiều cơ sở GDNN áp dụng theo phương thức đào tạo mới (đào tạo theo mô đun, tín chỉ), lấy người học làm trung tâm; chuyển giao, kiểm định và công nhận 22 bộ chương trình cho 22 nghề trọng điểm cấp độ quốc tế từ CHLB Đức; đã và đang tiến hành đào tạo thí điểm 12 nghề theo 12 bộ chương trình chuyển giao từ Úc.

Việc gắn kết với doanh nghiệp đã được chú trọng, nhiều cơ sở GDNN đã tìm ra những hình thức hợp tác với doanh nghiệp hiệu quả; các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động đã tham gia trong việc xây dựng chương trình, tổ chức đánh giá kết quả đào tạo; đã xây dựng được cơ chế phối hợp 3 bên: Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp thông qua chương trình phối hợp công tác giữa Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp với VCCI.

Nhìn lại năm 2017, có thể khẳng định chất lượng GDNN bước đầu đã có chuyển biến tích cực, từng bước được cải thiện, một số lĩnh vực đã tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới. Chất lượng, kỹ năng của nguồn nhân lực qua GDNN đã dần từng bước bắt kịp với thị trường lao động và tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, đảm nhận được các vị trí, công việc phức tạp. Tỷ lệ học sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp đạt trên 70%, ở một số nghề đạt trên 90%, với mức thu nhập bình quân từ 7 đến 10 triệu đồng/tháng. …

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập sâu rộng của khu vực, quốc tế, đòi hỏi phải có một lực lượng lao động chất lượng cao để thích ứng, Bộ trưởng sẽ có những hành động cụ thể nào đáp ứng thay đổi này?

-Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ 3 đột phá chiến lược trong đó nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Chính phủ đã có Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018. Đây chính là những định hướng, những giải pháp chỉ ra không chỉ với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, mà là cho các Bộ, ngành, các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế trong quá trình phát triển hội nhập cùng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Tôi cho rằng, cơ hội luôn đi cùng thách thức. Tuy nhiên, biết lựa chọn hướng đi đúng với những bước đột phá sẽ cho ta thành công. Năm 2018, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chọn là năm đột phá trong GNNN, với mục tiêu tạo bước chuyển biến rõ nét, thực chất về chất lượng và hiệu quả GDNN đáp ứng nhu cầu của người học, thị trường lao động và doanh nghiệp, đặc biệt là ở những ngành có nhu cầu lao động lớn, đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Cụ thể nhóm giải pháp sẽ như thế nào, thưa Bộ trưởng?

- Để thực hiện mục tiêu trên thì cần triển khai đồng bộ, có hiệu quả nhiều nhiệm vụ và giải pháp, trong đó đặt trọng tâm vào một số nhiệm vụ giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới hoàn thiện cơ chế, bộ máy quản lý nhà nước về GDNN theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, gắn với trách nhiệm; giảm dần sự can thiệp của các cơ quan chủ quản vào các hoạt động đào tạo và quản trị nhà trường; chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa đội ngũ quản lý GDNN ở các cấp, nhất là ở cấp địa phương; ứng dụng mạnh mẽ CNTT trong  quản lý GDNN; hiện đại hóa hạ tầng CNTT  từ trung ương tới địa phương phục vụ công tác quản lý và điều hành lĩnh vực GDNN.Triển khai các hoạt động dự báo nhu cầu nhân lực và nhu cầu đào tạo theo cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với xu hướng phát triển của khoa học, công nghệ, trước sự phát triển của cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Thứ hai, tập trung xây dựng thư viện điện tử, hệ thống đào tạo trực tuyến; khuyến khích các cơ sở GDNN xây dựng phòng học đa phương tiện, phòng chuyên môn hóa; hệ thống thiết bị ảo mô phỏng, thiết bị thực tế ảo, thiết bị dạy học thuật và các phần mềm mô phỏng thiết bị dạy học thực tế trong dạy học cho các cơ sở GDNN. Chương trình đào tạo phải được thiết kế linh hoạt, một mặt đáp ứng chuẩn đầu ra của nghề; mặt khác, tạo sự liên thông giữa các trình độ trong một nghề và giữa các nghề; phương pháp đào tạo cần phải thay đổi căn bản trên cơ sở lấy người học làm trung tâm và sự ứng dụng CNTT trong dạy học; đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra trong GDNN theo hướng đáp ứng năng lực thực hiện và tính sáng tạo của người học.

Thứ ba,để đáp ứng yêu cầu đào tạo trong môi trường mới, đội ngũ nhà giáo GDNN phải có những năng lực mới, năng lực sáng tạo và do đó đòi hỏi phải có những phẩm chất mới trên cơ sở chuẩn hóa, thông qua các hoạt động đào tạo, tự đào tạo và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề, kỹ năng sư phạm, kỹ năng ứng dụng CNTT trong dạy học và những kỹ năng mềm cần thiết khác. Thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng sư phạm, kỹ năng nghề, kỹ năng công nghệ cho đội ngũ giáo viên GDNN ở nước ngoài và các chương trình tiên tiến ở trong nước.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển đào tạo tại doanh nghiệp, phát triển các trường trong doanh nghiệp để đào tạo nhân lực phù hợp với công nghệ và tổ chức của doanh nghiệp.Tăng cường việc gắn kết giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp, trên cơ sở trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hướng tới doanh nghiệp thực sự là “cánh tay nối dài” trong hoạt động đào tạo của cơ sở GDNN; có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia các cuộc thi tay nghề khu vực, thế giới thông qua việc bồi dưỡng tay nghề cho người học tham gia các cuộc thi.

Thứ năm, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, phương tiện dạy học và ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý đào tạo.Chú trọng các nghiên cứu mô phỏng, nghiên cứu tương tác người - máy. Hình thành mạng lưới nghiên cứu khoa học GDNN giữa các viện, trường trong nước với các viện, trường nước ngoài ở các nước tiên tiến như CHLB Đức, Hàn Quốc và các nước trong ASEAN và châu Á.

Nguồn: http://gdnn.gov.vn